Bài viết mới cập nhật
Nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc đối với cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài
Ngày cập nhật Ngày 22 tháng 11 năm 2009    Lượt xem 484 lượt xem

Nhạc sĩ  Đào Đăng Hoàn

Phó  Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn

Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc thông qua hoạt động nghệ thuật biểu diễn vừa là nhu cầu, đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn thể cộng đồng người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài.

Do yếu tố tự nhiên, do biến động lịch sử, Việt Nam là một trong những nước có nhiều người sinh sống ở nước ngoài (khoảng 3,5 triệu người). Đó là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Cho nên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng và đa dạng đối với hoạt động giữ gìn, phát huy, quảng bá các loại hình nghệ thuật truyền thống dân tộc.

Thưởng thức nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc không những là nhu cầu chung mà còn là nhu cầu riêng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Về nhu cầu chung thì thưởng thức biểu diễn nghệ thuật là nhu cầu tự thân của mỗi một con người. Đã là người Việt Nam, ai cũng muốn tìm hiểu, hưởng thụ những tác phẩm nghệ thuật biểu diễn truyền thống của dân tộc mình, bởi vì trong các tác phẩm nghệ thuật đó, nó cũng chứa chất tinh thần dân tộc, hội tụ tình cảm cộng đồng và là nơi giãi bày những nỗi niềm của con người Việt Nam. Thông qua sự tìm hiểu và hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc sẽ là hành trình làm đẹp và tự khám phá bản thân của mỗi cá nhân chúng ta được gắn kết trong một cộng đồng văn hóa và tiến bộ.

Về nhu cầu riêng: Do đặc điểm sống ở xa quê hương, lại tản rộng ra nhiều nước trên thế giới, cho nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ít có điều kiện trực tiếp xem biểu diễn nghệ thuật truyền thống dân tộc Việt Nam. Chính vì

vậy, mỗi khi có cơ hội thưởng thức, họ đều tận dụng, coi đó như những dịp may để trải lòng mình với quê hương, với bạn bè. Nếu ai đã ở  nước ngoài lâu năm đều thấu hiểu điều  đó và đều chứng kiến cảnh rủ nhau như  trẩy hôi đi xem, khi có các đoàn nghệ thuật trong nước sang giao lưu, biểu diễn. Nhất là những ngày văn hóa Việt Nam được tổ chức ở nước ngoài, kiều bào không chỉ là đến xem, thưởng thức nghệ thuật mà còn là dịp thăm hỏi, trao đổi về tình hình trong nước, thảo luận sự quan tâm nhu cầu đối với đồng bào mình. Quyên góp, ủng hộ thông qua các tổ chức từ thiện cho các đối tượng nghèo, thiên tai, lũ lụt…cái đó chính là sự tìm hiểu để trở về với cội nguồn dân tộc của những người con xa sứ. Thông qua nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc là hành trình tự giác, ngắn và hiệu quả nhất đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 

Nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là hoạt động đặc thù cho chương trình ngoại giao, quảng bá du lịch.

Mặc dù sinh sống ở nước ngoài nhưng cộng đồng người Việt Nam vẫn thể hiện rõ bản sắc văn hóa Việt Nam của mình: cần cù, thông minh, nhân hậu và  đoàn kết. Họ luôn là những biểu tượng đẹp đẽ của đất nước Việt Nam. Việc hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật truyền thống dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam cũng được coi là hoạt động ngoại giao bằng văn hóa, đồng thời trực tiếp quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Chính vì thế mà Đảng và nhà nước hết sức quan tâm đến hoạt động này, coi đây như mối liên kết văn hóa ngoại giao, du lịch giữa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, giữa đất nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế…

Những thể loại biểu diễn nghệ thuật truyền thống dân tộc tiêu biểu của dân tộc được cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài yêu thích: Chèo, Tuồng, Cải lương, Rối nước, Ca múa nhạc cung đình, hát Quan họ, Chầu văn, Ca trù, hát Then, lý Nam bộ…nhưng  phổ biến nhất và thường được biểu diễn nhiều nhất là Chèo, Cải lương, Rối nước, lý Nam bộ và Nhã nhạc (một hình thức của ca múa nhạc cung đình). Dưới đây là sơ lược một vài loại hình nghệ thuật biểu diễn:

Ca nhạc cung đình: Ca múa nhạc cung đình phát triển mạnh vào triều đại

vua Lê  Thái Tông với nhiều loại hình ca múa nhạc phong phú như: Trung cung chỉ nhạc, Yến nhạc, Nhã nhạc, Đại nhạc, Văn vũ, Võ vũ…Dưới triều nhà Nguyễn, ca múa nhạc cung đình phát triển rực rỡ với những điệu múa Bát dật biểu diễn trong các lễ tế trời của các vị vua triều Nguyễn tại Đàn Nam Giao; múa Quạt, Tam trinh Chúc thọ, Bát tiên hiến, Lục triệt hoa mã đăng, Lục cúng hoa đăng trong các nghi lễ của triều đình phong kiến. Nhiều điệu múa, bản nhạc cung đình còn được lưu giữ và phát triển cho đến ngày nay. Năm 2003, UNESCO đã chính thức công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Múa rối nước: Nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam là loại hình sân khấu cổ truyền được ưa chuộng khắp nơi trên thế giới. Múa rối nước xuất hiện từ thời Lý (1009 – 1225). Một trò rối nước thường có nhiều nhân vật. Mỗi nhân vật (con rối) là tác phẩm điêu khắc dân gian, mang dáng vẻ khác nhau, tính cách khác nhau. Con rối được làm bằng gỗ, bên ngoài phủ lớp sơn chống thấm  nước. Nhân vật tiêu biểu của Rối nước là chú Tễu với thân hình tròn trĩnh và nụ cười hóm hỉnh lạc quan. Nghệ nhân biểu diễn con rối phải ngâm mình dưới nước sau màn sân khấu để điều khiển con rối thông qua máy sào, máy dây. Nhạc đệm cho cuộc diễn là bộ gõ gồm trống, mõ, thanh la…

Chèo: Bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống tiêu biểu nhất của Việt Nam. Lúc đầu xuất hiện ở các làng quê, dần trở thành loại hình sân khấu tiêu biểu của cư dân đồng bằng Bắc bộ. Nghệ thuật Chèo bao gồm múa, hát, âm nhạc và văn học trong tích trò. Văn chèo tự sự (kể chuyện)  mang đậm tính trữ tình của ca dao, tục ngữ; tràn đầy tính lạc quan trong những cái cười dân dã, thông minh, hóm hỉnh, trí tuệ; tính nhân văn rất rõ nét; thể hiện khát khao vươn tới hạnh phúc và xã hội hòa thuận, bảo vệ quyền con người; cái thiện luôn thắng cái ác. Nhân vật trong Chèo mang tính ước lệ, chuẩn hóa với tính cách và tâm lý không thay đổi trong suốt vở. Một số vở Chèo nổi tiếng thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ khán giả là Quan Âm Thị Kính, Chu Mãi Thần, Kim Nhan…được xếp vào vốn quý của sân khấu cổ truyền dân tộc.

Cải lương: là loại hình sân khấu kịch hát dân tộc ra đời vào đầu thế kỷ 20. Nguồn gốc của Cải lương  là các bài hát lý, ca nhạc tài tử ở miền Tây Nam bộ. Cải lương sử dụng nhiều  cách diễn, âm nhạc của tuồng Việt Nam. Cũng như các nghệ thuật Kịch hát dân tộc khác, Cải lương bao gồm múa, hát, âm nhạc. Nhạc cụ chủ đạo trong dàn nhạc Cải lương là đàn ghita phím lõm và đàn nguyệt. Nhiều vở diễn đã thu hút sự quan tâm của người hâm mộ như: Lục Vân Tiên, Lưu Bình Dương Lễ, Đời Cô Lựu, Nửa đời hương phấn, Chim Việt cành Nam, Thái hậu Dương Vân Nga…

Hát Quan họ (hay Quan họ Bắc Ninh): bắt nguồn từ những lối hát đối đáp nam nữ có từ lâu đời. Hát Quan họ chủ yếu chỉ được tổ chức ở mỗi làng, mỗi năm một lần vào dịp hội  làng. Nó gắn liền với tục kết bạn nam nữ, kết nghĩa giữa hai làng khác nhau. Hát Quan họ bao giờ cũng hát đôi, trình tự hát vừa theo nội dung vừa theo làn điệu, đối lời kèm theo đối giọng. Hơn 180 làn điệu Quan họ còn lưu giữ đến nay đều mang nội dung giao duyên trữ tình thắm thiết, với lời hay, ý đẹp, ngôn ngữ bình dân nhưng tinh tế, ý nhị, giàu hình tượng và cảm xúc, với âm điệu phong phú, trữ tình, với lối hát mượt mà, kỹ thuật “vang rền nền nảy” độc đáo. Tất cả điều này đã làm nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của dân ca Quan họ Bắc Ninh.

Ca trù: Là loại hình diễn âm nhạc xướng dân gian có tính  bác học của cư dân vùng đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung  bộ, là lối chơi tao nhã không  phân biệt giai cấp của các tầng lớp trong xã hội phong kiến Việt Nam. Do giá trị nghệ thuật, do nhu cầu phục hồi, giữ gìn và phát triển, mới đây, năm 2009, ca trù đã chính thức được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới…

Ngoài ra còn nhiều hình thức nghệ thuật dân tộc khác được xen ghép qua các chương trình ca múa nhạc dân tộc như: múa Xòe Tây Bắc, hát Then đàn Tính, cồng chiêng Tây Nguyên…thể hiện rõ bản sắc văn hóa Việt Nam thống nhất của 54 dân tộc anh em cùng chung sống.

Những kiến nghị giữ gìn và phát huy hoạt động nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam  ở nước ngoài.

Hiện nay do công cuộc đổi mới và quá trình hội nhập của đất nước, nhu cầu hưởng thủ nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng đòi hỏi cao không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng. Thế nhưng, các hoạt động nghệ thuật biểu diễn truyền thống

dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam  ở nước ngoài còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ. Trong khi đó hằng năm chỉ có khoảng 50 đến 70 đoàn nghệ thuật từ trong nước ra nước ngoài làm công tác ngoại giao và phục vụ cộng đồng người Việt Nam. Cho nên hoạt động này cơ bản vẫn không đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Chúng tôi mong muốn  để thực hiện tốt các hoạt  động này, cần phải làm những công việc cụ thể  như sau:

Một là kiện toàn hệ thống Trung tâm văn hóa  ở tất cả các nước có đông người Việt Nam sinh sống;

Hai là mỗi Châu lục nên thành lập một Hội văn nghệ, tồn tại bằng ngân sách nhà nước; trụ sở đặt tại các Trung tâm văn hóa - để ngoài các nhiệm vụ ngoại giao còn nhằm định hướng, phổ biến, phục vụ nhu cầu văn hóa cho cộng đồng người Việt Nam cũng như công dân các nước sở tại.

Ba là định  kỳ 1 hoặc 2 năm tổ chức hội thảo để rút kinh nghiệm, tăng cường mặt  ưu và hạn chế mặt khuyết của các hoạt  động  này. Tăng cường tổ chức những ngày hội văn hóa Việt Nam ở các nước có đông Việt kiều sinh sống để giao lưu, tuyên truyền cho văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.

Cục Nghệ thuật biểu diễn có trách nhiệm tham gia, đóng góp, xây dựng các chương trình nghệ thuật dân tộc đưa sang các nước phục vụ đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài, vừa giúp cho cộng đồng người Việt hiểu thêm về văn hóa Việt Nam, vừa giúp cho nền văn hóa Việt Nam được giữ gìn, bảo tồn lâu bền hơn. Định kỳ hằng năm, các Đại sứ quán ở các nước sở tại báo cáo các hoạt động trên về Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để các Bộ nêu trên điều chỉnh, xin ý kiến Chính phủ chỉ đạo các hoạt động này được thực hiện hiệu quả hơn.

 


Các bài viết khác:
Ngày 12 tháng 11 năm 2009, 64 lượt xem
 


  QUẢNG CÁO